Ít ai nghĩ rằng vùng đất nay trải dài những ao tôm từng là nơi ông Tăng Văn Xúa (69 tuổi, ngụ khu vực Cảng Buối, phường Khánh Hòa) gắn bó với ruộng lúa. Ông nhớ lại, gần 30 năm trước, vùng đất còn nhiễm phèn, mặn. Người dân vẫn cố trồng lúa mùa nhưng năng suất mỗi công chỉ đạt khoảng 200kg.
"Đất 6 tháng mặn, 6 tháng ngọt, lúa xèo xèo không hạt. Tôi kiến nghị chuyển sang nuôi tôm nhưng địa phương chưa chấp thuận. Năm 1999, tôi quyết định làm đại trên diện tích khoảng 1.000m2", ông Xúa kể.
Vụ đầu tiên, ông thu 400kg tôm sú, bán giá 176.000 đồng một kg (loại 30 con/kg). Thời điểm đó, 1kg tôm giá trị tương đương 100kg lúa. Thấy hiệu quả rõ rệt, ông bắt đầu vừa nuôi vừa học hỏi kỹ thuật từ cán bộ khuyến nông và các công ty thức ăn.
Năm 2000, ông mở rộng diện tích lên 4ha, rồi lên 6ha vào năm 2011. Sau nhiều năm tích lũy và mở rộng mô hình, diện tích sản xuất của gia đình hiện lên khoảng 13ha.

Nhiều năm nuôi tôm sú theo phương thức truyền thống, đến năm 2016, ông Xúa bắt đầu chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng theo hướng công nghệ cao.
Ông đầu tư hệ thống ao lót bạt, hệ thống cấp oxy, thiết bị cho ăn, siphon đáy, vi sinh và quạt nước công suất lớn nhằm kiểm soát môi trường ao nuôi.
Theo ông Xúa, vốn đầu tư ban đầu cho một ao nuôi hoàn chỉnh có thể lên đến 500 triệu đồng. Diện tích mỗi ao thường từ 1.000-2.600m2, tùy mô hình.
Khác với trước đây, ông đặc biệt chú trọng nguồn nước. Theo ông, đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định thành bại của vụ tôm. “Khâu quan trọng nhất là nước. Thứ hai là giống. Rồi phải kết hợp với môi trường nuôi, làm sao cho thật chuẩn”, ông nói.
Tuyệt chiêu "mượn" cá rô phi làm sạch nước
Mô hình của ông sử dụng hệ thống ao lắng để xử lý nước trước khi đưa vào ao nuôi. Nước từ ao nuôi được đưa qua các ao xử lý, trong đó có ao sử dụng cá rô phi để hỗ trợ làm sạch nguồn nước, sau đó tiếp tục lắng lọc và xử lý trước khi cấp trở lại ao nuôi.
Ông gọi đây là quy trình tuần hoàn. Cá rô phi được thả trong các ao xử lý nước, tận dụng nguồn thức ăn dư thừa, chất hữu cơ và một số thành phần trong nước để góp phần giảm ô nhiễm. Khi đến thời điểm cải tạo ao, lượng cá rô phi cũng được thu hoạch bán, tạo thêm một khoản thu nhập để trang trải chi phí sản xuất.
Theo ông Xúa, có thời điểm mỗi năm gia đình thu được hàng chục tấn cá rô phi từ hệ thống ao lắng.
"Phải lựa cá rô phi đực thả trong ao lắng. Nếu lẫn cá mái, chúng sinh sản bùng nổ sẽ làm hư ao", ông Xúa chia sẻ. Cách làm này giúp gia đình giảm chi phí sử dụng hóa chất xử lý nước, tiết kiệm khoảng 100 triệu đồng mỗi năm.


Với ao tôm, ông không chạy theo mật độ cao trong mọi thời điểm mà điều chỉnh theo mùa vụ. Mùa nghịch, mật độ thường được giảm xuống khoảng 100-120 con/m2; mùa thuận có thể từ 150-200 con/m2.
Thời gian nuôi khoảng 2 tháng bắt đầu thu tỉa, sau đó tiếp tục thu cho đến khoảng tháng thứ 4.
Một ao diện tích khoảng 1.000m2 có thể thu 3-5 tấn tôm thương phẩm mỗi vụ.
Nuôi tôm như "đánh bạc" nhưng không thể trông vào may rủi
Người dân thường ví nghề nuôi tôm như “đánh bạc với trời” bởi phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết và môi trường nước. Ông Xúa lại cho rằng, muốn giảm rủi ro thì người nuôi phải chủ động kiểm soát những yếu tố có thể kiểm soát được.
Trước khi thả giống, ông kiểm tra môi trường nước, độ mặn và các khoáng chất cần thiết như canxi, magie, kali. Nguồn giống cũng phải được lựa chọn kỹ, ưu tiên các cơ sở có uy tín, có kiểm soát chất lượng.
“Con giống luôn luôn phải chọn trại giống có uy tín mới hiệu quả”, ông nói.
Trong quá trình nuôi, việc cho ăn cũng được ông đặc biệt chú ý. Theo ông, nguyên tắc là cho tôm ăn vừa đủ, không để thức ăn dư thừa làm ảnh hưởng môi trường nước. Khi mưa lớn, các yếu tố môi trường thay đổi, tôm thường giảm bắt mồi, vì vậy người nuôi phải giảm lượng thức ăn, thậm chí có thể cắt một cữ.
“Ăn làm sao đảm bảo cho thiếu chứ đừng cho dư. Dư là tôm có chuyện liền”, ông giải thích.
Những năm gần đây, khi giá tôm có thời điểm giảm, ông tập trung điều chỉnh lịch thả nuôi để tận dụng mùa nghịch.
Theo ông, vụ thuận thường bắt đầu thả từ khoảng tháng 1 đến tháng 5; từ tháng 6 trở đi có thể tính vào vụ nghịch, tùy điều kiện thực tế. Mùa nghịch, khi nguồn cung giảm, giá tôm có thể thuận lợi hơn.
Ông cho biết, có thời điểm giá tôm khoảng 120.000 đồng/kg; với tôm cỡ 40 con/kg, mức giá khoảng 115.000 đồng/kg mới có lợi nhuận.

Nhờ áp dụng quy trình nuôi đạt chứng nhận ASC, tôm của ông luôn được các doanh nghiệp thu mua cao hơn giá thị trường khoảng 2.000 đồng/kg. Bình quân mỗi năm, riêng mô hình nuôi tôm mang về cho ông lợi nhuận 2-4 tỷ đồng.
Ngoài nuôi tôm, ông còn làm đại lý cung ứng thức ăn, tôm giống và thuốc thủy sản. Ông tiết lộ, tổng lợi nhuận từ các hoạt động này và mô hình nuôi tôm đạt khoảng 9 tỷ đồng/năm.
Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Xúa còn hỗ trợ vốn, con giống, kỹ thuật và dựng ao bạt cho hơn 50 hộ dân trong vùng. Gia đình ông tạo việc làm thường xuyên cho hàng chục lao động địa phương.
"Mình thấy bà con có đất nhưng thiếu vốn, thiếu kỹ thuật thì giúp lên ao bạt làm ăn. Giờ thấy nhà cửa họ cất khang trang, con cái học hành đàng hoàng, tôi mừng lắm", ông Xúa bộc bạch.
Bên cạnh đó, mỗi năm ông đóng góp hàng chục triệu đồng làm đường bê tông, đứng ra chủ trì vận động làm cầu, nạo vét kênh mương nội đồng. Nhờ những đóng góp bền bỉ, ông từng được trao Huân chương Lao động hạng Ba cùng nhiều bằng khen.
Nhìn lại chặng đường gần 3 thập kỷ gắn bó với con tôm, ông Xúa đúc kết bằng hai từ “mạnh dạn”: Mạnh dạn thử nghiệm khi chưa ai làm. Mạnh dạn chuyển đổi khi cây lúa không còn phù hợp. Mạnh dạn đầu tư công nghệ, học hỏi kỹ thuật và chia sẻ cách làm với người khác.
