Đã qua thời cạnh tranh bằng sản lượng và giá bán
Tại diễn đàn “Kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ I” diễn ra sáng 24/6, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT), cho biết, trong cơ cấu xuất khẩu rau quả hiện nay, sầu riêng là ngành hàng tăng trưởng ấn tượng nhất.
Giai đoạn 2021-2025, Việt Nam xuất khẩu hơn 3 triệu tấn sầu riêng tươi và gần 190.000 tấn sầu riêng đông lạnh; trong đó Trung Quốc chiếm trên 95% khối lượng xuất khẩu. Ngoài ra, Việt Nam xuất khẩu hơn 3,2 triệu tấn mít tới các quốc gia, với 99% sản lượng xuất khẩu sang thị trường này.
Những kết quả này cho thấy tiềm năng rất lớn của ngành rau quả Việt Nam tại thị trường 1,4 tỷ dân.
Tuy nhiên, ông Mạnh cũng chỉ rõ thực trạng các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn. Riêng Trung Quốc đang siết chặt quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và các yêu cầu về kiểm dịch thực vật.

Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), nhu cầu đối với các loại trái cây nhiệt đới của Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh. Việc hai nước ký thêm nhiều nghị định thư xuất khẩu ớt, chanh leo, cám gạo, tổ yến, mít, cùng với mở cửa thị trường cho bưởi, chanh đã mở ra nhiều cơ hội cho nông sản.
Tuy nhiên, các quốc gia trong khu vực cũng đang gia tăng hiện diện tại thị trường này. Đơn cử, Philippines gần như thống lĩnh thị trường dứa, trong khi nhiều mặt hàng khác của Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm từ Thái Lan, Lào và các nước ASEAN.
Theo ông Phú, thành công của sầu riêng cho thấy tiềm năng rất lớn của nông sản Việt Nam tại Trung Quốc, nhưng không thể mặc nhiên lặp lại với các mặt hàng khác. Nếu tiếp tục phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô và cạnh tranh bằng giá, dư địa tăng trưởng sẽ ngày càng thu hẹp.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cũng cho rằng, khi tầng lớp trung lưu Trung Quốc ngày càng gia tăng, nhu cầu tiêu dùng cũng thay đổi theo hướng ưu tiên các sản phẩm chất lượng cao, an toàn thực phẩm và có nguồn gốc rõ ràng nên yếu tố cạnh tranh không còn nằm ở giá bán hay sản lượng.
Niềm tin về chất lượng là nền tảng quan trọng
Theo ông Bình, để mở rộng thị phần, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu về vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm.
Thực tế cho thấy, nhiều mặt hàng như sầu riêng, thanh long, chuối, mít, bưởi hay dừa đã xây dựng được vị thế đáng kể tại thị trường Trung Quốc. Thế nhưng, dư địa tăng trưởng thời gian tới không nằm ở việc mở rộng sản lượng bằng mọi giá mà ở khả năng nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị. Điều này đòi hỏi ngành rau quả chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi, từ đáp ứng nhu cầu ngắn hạn sang tuân thủ các tiêu chuẩn dài hạn của thị trường.
Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam nhấn mạnh, doanh nghiệp cần chuyển từ cạnh tranh bằng sản lượng và vị trí địa lý sang cạnh tranh bằng chất lượng, độ an toàn và tính minh bạch. Hoạt động thương mại cũng cần chuyển từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch để phát triển bền vững hơn.
Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group, kiến nghị xây dựng cơ chế "luồng xanh" đối với các doanh nghiệp, vùng trồng và cơ sở đóng gói có lịch sử tuân thủ tốt, đã áp dụng thành công các mô hình sản xuất xanh và truy xuất nguồn gốc. Việc giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế tại cửa khẩu sẽ giúp rút ngắn thời gian thông quan, bảo đảm chất lượng nông sản khi đến tay người tiêu dùng.
Ông cũng đề xuất cơ quan chức năng hai nước sớm xây dựng hệ thống dữ liệu số dùng chung, cho phép cập nhật tình trạng mã số vùng trồng theo thời gian thực. Đây là giải pháp quan trọng để tăng tính minh bạch, hỗ trợ doanh nghiệp tra cứu thuận lợi hơn và ngăn chặn tình trạng gian lận, mạo danh mã số.
Ông Lương Đức Vinh, đại diện Tập đoàn Kiểm định và Chứng nhận Trung Quốc (CCIC) khu vực Tây Nam, cho rằng việc hài hòa tiêu chuẩn kiểm nghiệm, tăng cường truy xuất nguồn gốc và ứng dụng công nghệ số là chìa khóa để nâng cao hiệu quả thương mại nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Theo ông, vướng mắc hiện nay trong hoạt động xuất khẩu nông sản không nằm ở nhu cầu thị trường mà xuất phát từ sự khác biệt về tiêu chuẩn kiểm nghiệm, phương pháp đánh giá chất lượng và yêu cầu quản lý giữa các bên.
Một trong những giải pháp được CCIC tập trung triển khai là mô hình truy xuất nguồn gốc kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) đối với sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc. Hệ thống này cho phép số hóa toàn bộ quá trình từ vùng trồng, đóng gói, vận chuyển đến thông quan, đồng thời kết nối dữ liệu với hệ thống quản lý của cơ quan hải quan.
Nhờ đó, nhiều lô sầu riêng được xử lý trong vòng 24 giờ, thậm chí có lô chỉ mất khoảng 3 giờ. Đại diện CCIC cho biết sau sầu riêng, mô hình này sẽ được mở rộng sang nhiều mặt hàng nông sản và thủy sản khác.
